NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA THÔNG TƯ 04/2020/TT-BTP VỀ HỘ TỊCH

Chuyên mục phổ biến pháp luật:          NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA THÔNG TƯ 04/2020/TT-BTP VỀ HỘ TỊCH

Số kí hiệu 04/2020/TT-BTP
Ngày ban hành 16/10/2010
Ngày bắt đầu hiệu lực 16/10/2010
Thể loại Thông tư
Lĩnh vực TƯ PHÁP
Cơ quan ban hành BỘ TƯ PHÁP
Người ký Phạm Mạnh Hùng

Nội dung


                     Chuyên mục phổ biến pháp luật:
          NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA THÔNG TƯ 04/2020/TT-BTP VỀ HỘ TỊCH

     Ngày 28/5/2020, Bộ Tư pháp ban hành  Thông tư  04/2020/TT-BTP Thông tư quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch. Thông tư này bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 16/7/2020.
    Để giúp tổ chức, cá nhân nắm bắt được các quy định pháp luật mới được ban hành cũng như thuận tiện khi thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến hộ tịch, UBND xã tuyên truyền rộng rãi đến nhân dân một số nội dung cơ bản của Thông tư 04/2020 như sau:

  1. Khai sinh cho con: Không được đặt tên quá dài, khó sử dụng
Cụ thể, Thông tư 04/2020/TT-BTP quy định nội dung khai sinh được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật hộ tịch, khoản 1 Điều 4 Nghị định 123/2015/NĐ-CP và hướng dẫn sau đây:
- Việc xác định họ, dân tộc, đặt tên cho trẻ em phải phù hợp với pháp luật và yêu cầu giữ gìn bản sắc dân tộc, tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp của Việt Nam; không đặt tên quá dài, khó sử dụng.
- Trường hợp cha, mẹ không thỏa thuận được về họ, dân tộc, quê quán của con khi đăng ký khai sinh thì họ, dân tộc, quê quán của con được xác định theo tập quán nhưng phải bảo đảm theo họ, dân tộc, quê quán của cha hoặc mẹ.
2. Bổ sung quy định về cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân
    Cụ thể, quy định hiện hành tại Nghị định 123/2015/NĐ-CP và Thông tư 15/2015/TT-BTP đều có nêu rõ người yêu cầu cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn phải nộp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã được cấp trước đó. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp người yêu cầu không nộp lại được do bị mất, thất lạc,… nhưng lại không có quy định hướng dẫn, gây nhiều khó khăn trong công tác đăng ký hộ tịch.
    Khắc phục tình trạng bất cập này, Thông tư 04/2020/TT-BTP đã hướng dẫn giải quyết cụ thể trường hợp người yêu cầu không nộp lại được Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã được cấp trước đó. Theo đó:
- Người yêu cầu phải trình bày rõ lý do không nộp lại được Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã được cấp trước đó;
- Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, cơ quan đăng ký hộ tịch có văn bản trao đổi với nơi dự định đăng ký kết hôn trước đây để xác minh;
- Trong trường hợp không xác minh được hoặc không nhận được kết quả xác minh thì cơ quan đăng ký hộ tịch cho phép người yêu cầu lập văn bản cam đoan về tình trạng hôn nhân theo quy định.
    Bên cạnh đó, Thông tư còn chỉ rõ cơ quan đăng ký hộ tịch phải từ chối giải quyết trong trường hợp xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn với người cùng giới tính hoặc kết hôn với người nước ngoài tại Cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam.
  1. Quy định bổ sung về giá trị Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân
Cụ thể, Thông tư 04/2020/TT-BTP quy định Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị đến thời điểm thay đổi tình trạng hôn nhân hoặc 06 tháng kể từ ngày cấp, tùy theo thời điểm nào đến trước.
Ví dụ: Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được cấp ngày 03/02/2020 nhưng ngày 10/02/2020, người được cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã đăng ký kết hôn thì Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân chỉ có giá trị sử dụng đến ngày 10/02/2020.
    Hiện nay, Nghị định 123/2015/NĐ-CP chỉ quy định Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng kể từ ngày cấp.
    Ngoài ra, Thông tư 04/2020/TT-BTP cũng quy định, trường hợp yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng vào mục đích kết hôn thì cơ quan đăng ký hộ tịch chỉ cấp 01 bản cho người yêu cầu. Trong Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi rõ họ tên, năm sinh, quốc tịch, giấy tờ tùy thân của người dự định kết hôn, nơi dự định đăng ký kết hôn.
4. Ông bà đi khai sinh cho cháu không cần giấy ủy quyền
    Cụ thể, hiện nay, về việc ủy quyền đăng ký hộ tịch, Điều 2 Thông tư 15/2015/TT-BTP quy định trường hợp người được ủy quyền là ông, bà, cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em ruột của người ủy quyền thì văn bản ủy quyền không phải công chứng, chứng thực, nhưng phải có giấy tờ chứng minh mối quan hệ với người uỷ quyền.
Theo đó, Thông tư 04/2020/TT-BTP đã tiếp tục kế thừa quy định này Thông tư 15/2015/TT-BTP đồng thời bổ sung thêm quy định về việc ủy quyền trong trong hợp đăng ký khai sinh cho trẻ, cụ thể:
Điều 2. Việc ủy quyền đăng ký hộ tịch
2. Trường hợp người đi đăng ký khai sinh cho trẻ em là ông, bà, người thân thích khác theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Luật hộ tịch thì không phải có văn bản ủy quyền của cha, mẹ trẻ em, nhưng phải thống nhất với cha, mẹ trẻ em về các nội dung khai sinh.
    Như vậy, theo quy định này, kể từ ngày 16/7/2020, ông, bà, người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em đi đăng ký khai sinh cho trẻ thì không cần phải có văn bản ủy quyền của cha, mẹ trẻ.
5. Người yêu cầu đăng ký hộ tịch được nộp bản chụp giấy tờ
    Cụ thể, theo Khoản 3 Điều 3 Thông tư 04/2020/TT-BTP, người yêu cầu đăng ký hộ tịch có thể nộp bản sao được chứng thực từ bản chính hoặc bản sao được cấp từ sổ gốc hoặc bản chụp kèm theo bản chính giấy tờ để đối chiếu. (Hiện nay, Thông tư 15 không quy định về nội dung này)
Trường hợp người yêu cầu nộp bản chụp kèm theo bản chính giấy tờ thì người tiếp nhận có trách nhiệm kiểm tra, đối chiếu bản chụp với bản chính và ký xác nhận, không được yêu cầu nộp bản sao giấy tờ đó.
6. Bổ sung trường hợp khai sinh cho con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân nhưng không được thừa nhận là con chung
Cụ thể, Khoản 4 Điều 16 Thông tư 04/2020/TT-BTP quy định như sau:
Điều 16. Đăng ký nhận cha, mẹ, con, bổ sung hộ tịch trong một số trường hợp đặc biệt

4. Trường hợp con do người vợ sinh ra hoặc có thai trong thời kỳ hôn nhân nhưng vợ hoặc chồng không thừa nhận là con chung hoặc người khác muốn nhận con thì do Tòa án nhân dân xác định theo quy định pháp luật.
    Trường hợp Tòa án nhân dân từ chối giải quyết thì cơ quan đăng ký hộ tịch tiếp nhận, giải quyết yêu cầu đăng ký khai sinh cho trẻ em chưa xác định được cha hoặc đăng ký nhận cha, con, hồ sơ phải có văn bản từ chối giải quyết của Tòa án và chứng cứ chứng minh quan hệ cha, con theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Thông tư này.
    Đây là nội dung mới được bổ sung tại Thông tư 04/2020/TT-BTP so với quy định hiện hành tại Thông tư 15/2015/TT-BTP.
    Hiện nay, theo Khoản 3 Điều 26 Thông tư 15/2015/TT-BTP thì sau khi đăng ký hộ tịch mà phát hiện sai sót do lỗi của công chức làm công tác hộ tịch hoặc do lỗi của người yêu cầu đăng ký hộ tịch thì phải tiến hành thủ tục cải chính hộ tịch theo quy định tại khoản 2 Điều 7 của Nghị định  123/2015/NĐ-CP.
Điều 7. Điều kiện thay đổi, cải chính hộ tịch
2. Cải chính hộ tịch theo quy định của Luật Hộ tịch là việc chỉnh sửa thông tin cá nhân trong Sổ hộ tịch hoặc trong bản chính giấy tờ hộ tịch và chỉ được thực hiện khi có đủ căn cứ để xác định có sai sót do lỗi của công chức làm công tác hộ tịch hoặc của người yêu cầu đăng ký hộ tịch.
    Tiếp tục kế thừa quy định này tại Thông tư 15/2015/TT-BTP, Thông tư 04/2020/TT-BTP cũng quy định việc cải chính hộ tịch chỉ được giải quyết sau khi xác định có sai sót khi đăng ký hộ tịch (sai sót của người đi đăng ký hộ tịch hoặc sai sót của cơ quan đăng ký hộ tịch…); đồng thời bổ sung quy định “không cải chính nội dung trên giấy tờ hộ tịch đã được cấp hợp lệ nhằm hợp thức hóa thông tin trên hồ sơ, giấy tờ cá nhân khác”.
7. Bổ sung thời hạn giải quyết yêu cầu đăng ký hộ tịch khi không nhận được kết quả xác minh
    Cụ thể, Thông tư 04/2020/TT-BTP đã bổ sung quy định về việc giải quyết yêu cầu đăng ký hộ tịch khi không nhận được kết quả xác minh như sau:
Điều 4. Giải quyết yêu cầu đăng ký hộ tịch khi không nhận được kết quả xác minh
    Trường hợp việc đăng ký hộ tịch cần xác minh theo quy định tại khoản 4 Điều 22, khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 27 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và khoản 4 Điều 9, khoản 1 Điều 12 Thông tư này, sau thời hạn 20 ngày kể từ ngày gửi văn bản yêu cầu xác minh mà không nhận được văn bản trả lời, thì cơ quan đăng ký hộ tịch tiếp tục giải quyết hồ sơ theo quy định. Đối với trường hợp xác minh về tình trạng hôn nhân thì cho phép người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có văn bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình theo quy định tại Điều 5 Thông tư này.
    Hiện nay, Thông tư 15 không quy định thời gian bao lâu sau khi gửi hồ sơ xác minh mà không nhận được văn bản trả lời thì tiến hành thực đăng ký hộ tịch. Đồng thời, Thông tư 15 cũng quy định mọi trường hợp nếu quá thời hạn mà không nhận được văn bản trả lời kết quả xác minh thì cơ quan đăng ký hộ tịch cho phép người yêu cầu đăng ký hộ tịch lập văn bản cam đoan về nội dung cần xác minh còn Thông tư 04 chỉ quy định trong trường hợp xác minh về tình trạng hôn nhân thì cho phép người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có văn bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình.
8. Bổ sung quy định về giấy tờ, tài liệu là cơ sở đăng ký lại khai sinh
    Về cơ bản, Thông tư 04/2020/TT-BTP cũng quy định các loại giấy tờ tài liệu là cơ sở đăng ký lại khai sinh tương tự như tại Thông tư 15/2015/TT-BTP. Bên cạnh đó, Thông tư 04/2020/TT-BTP đã bổ sung thêm quy định sau:
Điều 9. Giấy tờ, tài liệu là cơ sở đăng ký lại khai sinh

4. Trường hợp giấy tờ của người yêu cầu đăng ký lại khai sinh không có thông tin chứng minh quan hệ cha, mẹ, con thì cơ quan đăng ký hộ tịch có văn bản đề nghị cơ quan công an có thẩm quyền xác minh.Trong thời hạn 20 ngày, cơ quan công an có văn bản trả lời cho cơ quan đăng ký hộ tịch.
    Trường hợp cơ quan công an trả lời không có thông tin thì cơ quan đăng ký hộ tịch cho người yêu cầu đăng ký lại khai sinh lập văn bản cam đoan về thông tin của cha, mẹ theo quy định tại Điều 4, Điều 5 Thông tư này và xác định nội dung khai sinh theo văn bản cam đoan.
9. Bổ sung quy định về đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài
    Cụ thể, Thông tư 04/2020/TT-BTP đã bổ sung thêm Điều 11 hướng dẫn về đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài như sau:
Điều 11. Việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài
1. Việc xác minh trong thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Luật hộ tịch, khoản 1 Điều 31 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP được thực hiện theo hướng dẫn sau đây:
Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Phòng Tư pháp có trách nhiệm nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ đăng ký kết hôn. Trường hợp có khiếu nại, tố cáo việc kết hôn không đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình hoặc xét thấy có vấn đề cần làm rõ về nhân thân của bên nam, bên nữ hoặc giấy tờ trong hồ sơ đăng ký kết hôn thì            Phòng Tư pháp phối hợp với cơ quan có liên quan xác minh làm rõ.
    Trong quá trình thẩm tra, xác minh hồ sơ, nếu thấy cần thiết, Phòng Tư pháp làm việc trực tiếp với các bên để làm rõ về nhân thân, sự tự nguyện kết hôn, mục đích kết hôn.
2. Trường hợp công dân Việt Nam đã được cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp giấy tờ cho phép cư trú, có yêu cầu kết hôn với nhau hoặc kết hôn với công dân Việt Nam cư trú ở trong nước thì thẩm quyền đăng ký kết hôn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện theo quy định tại Điều 37 Luật hộ tịch.
3. Giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài là giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước mà người đó là công dân cấp.
    Hiện nay, Thông tư 15/2015/TT-BTP không quy định về vấn đề này.
10. Bổ sung quy định về đăng ký khai tử cho người đã chết từ lâu
    Cụ thể, so với Thông tư 15/2015/TT-BTP, Thông tư 04/2020/TT-BTP đã bổ sung thêm nội dung hướng dẫn về việc đăng ký khai tử cho người đã chết từ lâu tại Điều 13, cụ thể như sau:
Điều 13. Đăng ký khai tử
    Việc đăng ký khai tử được thực hiện theo quy định tại Mục 7 Chương II Luật hộ tịch và hướng dẫn sau đây:
1. Trường hợp đăng ký khai tử cho người chết đã lâu, không có Giấy báo tử hoặc giấy tờ thay thế Giấy báo tử theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP thì người yêu cầu đăng ký khai tử phải cung cấp được giấy tờ, tài liệu, chứng cứ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp hoặc xác nhận hợp lệ chứng minh sự kiện chết.
2. Trường hợp người yêu cầu đăng ký khai tử không có giấy tờ, tài liệu, chứng cứ chứng minh theo quy định tại khoản 1 Điều này hoặc giấy tờ, tài liệu, chứng cứ không hợp lệ, không bảo đảm giá trị chứng minh thì cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối đăng ký khai tử.
11. Bãi bỏ một số chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con
    Cụ thể, Thông tư 04/2020/TT-BTP đã bỏ quy định chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con có thể là thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác chứng minh mối quan hệ cha con, quan hệ mẹ con được quy định trước đó tại Thông tư 15/2015/TT-BTP.
    Theo đó, Thông tư 04/2020/TT0BTP quy định, trường hợp không có chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều 14 thì các bên nhận cha, mẹ, con lập văn bản cam đoan về mối quan hệ cha, mẹ, con, có ít nhất hai người làm chứng về mối quan hệ cha, mẹ, con.
12. Hướng dẫn cách ghi tuổi sang năm sinh khi cấp bản sao trích lục hộ tịch
Cụ thể, tại Thông tư 04/2020/TT-BTP đã hướng dẫn cụ thể cách ghi tuổi sang năm sinh khi cấp bản sao trích lục hộ tịch trong trường hợp Sổ hộ tịch trước đây ghi tuổi như sau:
Điều 23. Cấp bản sao trích lục hộ tịch

2. Trường hợp Sổ hộ tịch trước đây ghi tuổi thì cơ quan đăng ký hộ tịch xác định năm sinh tương ứng ghi vào mục Ghi chú của Sổ hộ tịch, sau đó cấp bản sao trích lục hộ tịch.
Ví dụ: Sổ đăng ký khai sinh năm 1975 ghi tuổi của cha là 25 tuổi, tuổi của mẹ là 23 tuổi thì xác định năm sinh của cha: 1950, năm sinh của mẹ: 1952.
     Thông tư này có hiệu lực từ ngày 16 tháng 7 năm 2020 và thay thế Thông tư số 15/2015/TT-BTP.

                                                   
Nguồn: Nguyễn Thị Ngân - TƯ PHÁP XÃ CẨM VỊNH                      Chuyên mục phổ biến pháp luật:
          NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA THÔNG TƯ 04/2020/TT-BTP VỀ HỘ TỊCH

     Ngày 28/5/2020, Bộ Tư pháp ban hành  Thông tư  04/2020/TT-BTP Thông tư quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch. Thông tư này bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 16/7/2020.
    Để giúp tổ chức, cá nhân nắm bắt được các quy định pháp luật mới được ban hành cũng như thuận tiện khi thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến hộ tịch, UBND xã tuyên truyền rộng rãi đến nhân dân một số nội dung cơ bản của Thông tư 04/2020 như sau:
  1. Khai sinh cho con: Không được đặt tên quá dài, khó sử dụng
Cụ thể, Thông tư 04/2020/TT-BTP quy định nội dung khai sinh được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật hộ tịch, khoản 1 Điều 4 Nghị định 123/2015/NĐ-CP và hướng dẫn sau đây:
- Việc xác định họ, dân tộc, đặt tên cho trẻ em phải phù hợp với pháp luật và yêu cầu giữ gìn bản sắc dân tộc, tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp của Việt Nam; không đặt tên quá dài, khó sử dụng.
- Trường hợp cha, mẹ không thỏa thuận được về họ, dân tộc, quê quán của con khi đăng ký khai sinh thì họ, dân tộc, quê quán của con được xác định theo tập quán nhưng phải bảo đảm theo họ, dân tộc, quê quán của cha hoặc mẹ.
2. Bổ sung quy định về cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân
    Cụ thể, quy định hiện hành tại Nghị định 123/2015/NĐ-CP và Thông tư 15/2015/TT-BTP đều có nêu rõ người yêu cầu cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn phải nộp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã được cấp trước đó. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp người yêu cầu không nộp lại được do bị mất, thất lạc,… nhưng lại không có quy định hướng dẫn, gây nhiều khó khăn trong công tác đăng ký hộ tịch.
    Khắc phục tình trạng bất cập này, Thông tư 04/2020/TT-BTP đã hướng dẫn giải quyết cụ thể trường hợp người yêu cầu không nộp lại được Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã được cấp trước đó. Theo đó:
- Người yêu cầu phải trình bày rõ lý do không nộp lại được Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã được cấp trước đó;
- Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, cơ quan đăng ký hộ tịch có văn bản trao đổi với nơi dự định đăng ký kết hôn trước đây để xác minh;
- Trong trường hợp không xác minh được hoặc không nhận được kết quả xác minh thì cơ quan đăng ký hộ tịch cho phép người yêu cầu lập văn bản cam đoan về tình trạng hôn nhân theo quy định.
    Bên cạnh đó, Thông tư còn chỉ rõ cơ quan đăng ký hộ tịch phải từ chối giải quyết trong trường hợp xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn với người cùng giới tính hoặc kết hôn với người nước ngoài tại Cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam.
  1. Quy định bổ sung về giá trị Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân
Cụ thể, Thông tư 04/2020/TT-BTP quy định Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị đến thời điểm thay đổi tình trạng hôn nhân hoặc 06 tháng kể từ ngày cấp, tùy theo thời điểm nào đến trước.
Ví dụ: Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được cấp ngày 03/02/2020 nhưng ngày 10/02/2020, người được cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã đăng ký kết hôn thì Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân chỉ có giá trị sử dụng đến ngày 10/02/2020.
    Hiện nay, Nghị định 123/2015/NĐ-CP chỉ quy định Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng kể từ ngày cấp.
    Ngoài ra, Thông tư 04/2020/TT-BTP cũng quy định, trường hợp yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng vào mục đích kết hôn thì cơ quan đăng ký hộ tịch chỉ cấp 01 bản cho người yêu cầu. Trong Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi rõ họ tên, năm sinh, quốc tịch, giấy tờ tùy thân của người dự định kết hôn, nơi dự định đăng ký kết hôn.
4. Ông bà đi khai sinh cho cháu không cần giấy ủy quyền
    Cụ thể, hiện nay, về việc ủy quyền đăng ký hộ tịch, Điều 2 Thông tư 15/2015/TT-BTP quy định trường hợp người được ủy quyền là ông, bà, cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em ruột của người ủy quyền thì văn bản ủy quyền không phải công chứng, chứng thực, nhưng phải có giấy tờ chứng minh mối quan hệ với người uỷ quyền.
Theo đó, Thông tư 04/2020/TT-BTP đã tiếp tục kế thừa quy định này Thông tư 15/2015/TT-BTP đồng thời bổ sung thêm quy định về việc ủy quyền trong trong hợp đăng ký khai sinh cho trẻ, cụ thể:
Điều 2. Việc ủy quyền đăng ký hộ tịch
2. Trường hợp người đi đăng ký khai sinh cho trẻ em là ông, bà, người thân thích khác theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Luật hộ tịch thì không phải có văn bản ủy quyền của cha, mẹ trẻ em, nhưng phải thống nhất với cha, mẹ trẻ em về các nội dung khai sinh.
    Như vậy, theo quy định này, kể từ ngày 16/7/2020, ông, bà, người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em đi đăng ký khai sinh cho trẻ thì không cần phải có văn bản ủy quyền của cha, mẹ trẻ.
5. Người yêu cầu đăng ký hộ tịch được nộp bản chụp giấy tờ
    Cụ thể, theo Khoản 3 Điều 3 Thông tư 04/2020/TT-BTP, người yêu cầu đăng ký hộ tịch có thể nộp bản sao được chứng thực từ bản chính hoặc bản sao được cấp từ sổ gốc hoặc bản chụp kèm theo bản chính giấy tờ để đối chiếu. (Hiện nay, Thông tư 15 không quy định về nội dung này)
Trường hợp người yêu cầu nộp bản chụp kèm theo bản chính giấy tờ thì người tiếp nhận có trách nhiệm kiểm tra, đối chiếu bản chụp với bản chính và ký xác nhận, không được yêu cầu nộp bản sao giấy tờ đó.
6. Bổ sung trường hợp khai sinh cho con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân nhưng không được thừa nhận là con chung
Cụ thể, Khoản 4 Điều 16 Thông tư 04/2020/TT-BTP quy định như sau:
Điều 16. Đăng ký nhận cha, mẹ, con, bổ sung hộ tịch trong một số trường hợp đặc biệt

4. Trường hợp con do người vợ sinh ra hoặc có thai trong thời kỳ hôn nhân nhưng vợ hoặc chồng không thừa nhận là con chung hoặc người khác muốn nhận con thì do Tòa án nhân dân xác định theo quy định pháp luật.
    Trường hợp Tòa án nhân dân từ chối giải quyết thì cơ quan đăng ký hộ tịch tiếp nhận, giải quyết yêu cầu đăng ký khai sinh cho trẻ em chưa xác định được cha hoặc đăng ký nhận cha, con, hồ sơ phải có văn bản từ chối giải quyết của Tòa án và chứng cứ chứng minh quan hệ cha, con theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Thông tư này.
    Đây là nội dung mới được bổ sung tại Thông tư 04/2020/TT-BTP so với quy định hiện hành tại Thông tư 15/2015/TT-BTP.
    Hiện nay, theo Khoản 3 Điều 26 Thông tư 15/2015/TT-BTP thì sau khi đăng ký hộ tịch mà phát hiện sai sót do lỗi của công chức làm công tác hộ tịch hoặc do lỗi của người yêu cầu đăng ký hộ tịch thì phải tiến hành thủ tục cải chính hộ tịch theo quy định tại khoản 2 Điều 7 của Nghị định  123/2015/NĐ-CP.
Điều 7. Điều kiện thay đổi, cải chính hộ tịch
2. Cải chính hộ tịch theo quy định của Luật Hộ tịch là việc chỉnh sửa thông tin cá nhân trong Sổ hộ tịch hoặc trong bản chính giấy tờ hộ tịch và chỉ được thực hiện khi có đủ căn cứ để xác định có sai sót do lỗi của công chức làm công tác hộ tịch hoặc của người yêu cầu đăng ký hộ tịch.
    Tiếp tục kế thừa quy định này tại Thông tư 15/2015/TT-BTP, Thông tư 04/2020/TT-BTP cũng quy định việc cải chính hộ tịch chỉ được giải quyết sau khi xác định có sai sót khi đăng ký hộ tịch (sai sót của người đi đăng ký hộ tịch hoặc sai sót của cơ quan đăng ký hộ tịch…); đồng thời bổ sung quy định “không cải chính nội dung trên giấy tờ hộ tịch đã được cấp hợp lệ nhằm hợp thức hóa thông tin trên hồ sơ, giấy tờ cá nhân khác”.
7. Bổ sung thời hạn giải quyết yêu cầu đăng ký hộ tịch khi không nhận được kết quả xác minh
    Cụ thể, Thông tư 04/2020/TT-BTP đã bổ sung quy định về việc giải quyết yêu cầu đăng ký hộ tịch khi không nhận được kết quả xác minh như sau:
Điều 4. Giải quyết yêu cầu đăng ký hộ tịch khi không nhận được kết quả xác minh
    Trường hợp việc đăng ký hộ tịch cần xác minh theo quy định tại khoản 4 Điều 22, khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 27 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và khoản 4 Điều 9, khoản 1 Điều 12 Thông tư này, sau thời hạn 20 ngày kể từ ngày gửi văn bản yêu cầu xác minh mà không nhận được văn bản trả lời, thì cơ quan đăng ký hộ tịch tiếp tục giải quyết hồ sơ theo quy định. Đối với trường hợp xác minh về tình trạng hôn nhân thì cho phép người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có văn bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình theo quy định tại Điều 5 Thông tư này.
    Hiện nay, Thông tư 15 không quy định thời gian bao lâu sau khi gửi hồ sơ xác minh mà không nhận được văn bản trả lời thì tiến hành thực đăng ký hộ tịch. Đồng thời, Thông tư 15 cũng quy định mọi trường hợp nếu quá thời hạn mà không nhận được văn bản trả lời kết quả xác minh thì cơ quan đăng ký hộ tịch cho phép người yêu cầu đăng ký hộ tịch lập văn bản cam đoan về nội dung cần xác minh còn Thông tư 04 chỉ quy định trong trường hợp xác minh về tình trạng hôn nhân thì cho phép người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có văn bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình.
8. Bổ sung quy định về giấy tờ, tài liệu là cơ sở đăng ký lại khai sinh
    Về cơ bản, Thông tư 04/2020/TT-BTP cũng quy định các loại giấy tờ tài liệu là cơ sở đăng ký lại khai sinh tương tự như tại Thông tư 15/2015/TT-BTP. Bên cạnh đó, Thông tư 04/2020/TT-BTP đã bổ sung thêm quy định sau:
Điều 9. Giấy tờ, tài liệu là cơ sở đăng ký lại khai sinh

4. Trường hợp giấy tờ của người yêu cầu đăng ký lại khai sinh không có thông tin chứng minh quan hệ cha, mẹ, con thì cơ quan đăng ký hộ tịch có văn bản đề nghị cơ quan công an có thẩm quyền xác minh.Trong thời hạn 20 ngày, cơ quan công an có văn bản trả lời cho cơ quan đăng ký hộ tịch.
    Trường hợp cơ quan công an trả lời không có thông tin thì cơ quan đăng ký hộ tịch cho người yêu cầu đăng ký lại khai sinh lập văn bản cam đoan về thông tin của cha, mẹ theo quy định tại Điều 4, Điều 5 Thông tư này và xác định nội dung khai sinh theo văn bản cam đoan.
9. Bổ sung quy định về đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài
    Cụ thể, Thông tư 04/2020/TT-BTP đã bổ sung thêm Điều 11 hướng dẫn về đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài như sau:
Điều 11. Việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài
1. Việc xác minh trong thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Luật hộ tịch, khoản 1 Điều 31 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP được thực hiện theo hướng dẫn sau đây:
Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Phòng Tư pháp có trách nhiệm nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ đăng ký kết hôn. Trường hợp có khiếu nại, tố cáo việc kết hôn không đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình hoặc xét thấy có vấn đề cần làm rõ về nhân thân của bên nam, bên nữ hoặc giấy tờ trong hồ sơ đăng ký kết hôn thì            Phòng Tư pháp phối hợp với cơ quan có liên quan xác minh làm rõ.
    Trong quá trình thẩm tra, xác minh hồ sơ, nếu thấy cần thiết, Phòng Tư pháp làm việc trực tiếp với các bên để làm rõ về nhân thân, sự tự nguyện kết hôn, mục đích kết hôn.
2. Trường hợp công dân Việt Nam đã được cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp giấy tờ cho phép cư trú, có yêu cầu kết hôn với nhau hoặc kết hôn với công dân Việt Nam cư trú ở trong nước thì thẩm quyền đăng ký kết hôn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện theo quy định tại Điều 37 Luật hộ tịch.
3. Giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài là giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước mà người đó là công dân cấp.
    Hiện nay, Thông tư 15/2015/TT-BTP không quy định về vấn đề này.
10. Bổ sung quy định về đăng ký khai tử cho người đã chết từ lâu
    Cụ thể, so với Thông tư 15/2015/TT-BTP, Thông tư 04/2020/TT-BTP đã bổ sung thêm nội dung hướng dẫn về việc đăng ký khai tử cho người đã chết từ lâu tại Điều 13, cụ thể như sau:
Điều 13. Đăng ký khai tử
    Việc đăng ký khai tử được thực hiện theo quy định tại Mục 7 Chương II Luật hộ tịch và hướng dẫn sau đây:
1. Trường hợp đăng ký khai tử cho người chết đã lâu, không có Giấy báo tử hoặc giấy tờ thay thế Giấy báo tử theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP thì người yêu cầu đăng ký khai tử phải cung cấp được giấy tờ, tài liệu, chứng cứ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp hoặc xác nhận hợp lệ chứng minh sự kiện chết.
2. Trường hợp người yêu cầu đăng ký khai tử không có giấy tờ, tài liệu, chứng cứ chứng minh theo quy định tại khoản 1 Điều này hoặc giấy tờ, tài liệu, chứng cứ không hợp lệ, không bảo đảm giá trị chứng minh thì cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối đăng ký khai tử.
11. Bãi bỏ một số chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con
    Cụ thể, Thông tư 04/2020/TT-BTP đã bỏ quy định chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con có thể là thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác chứng minh mối quan hệ cha con, quan hệ mẹ con được quy định trước đó tại Thông tư 15/2015/TT-BTP.
    Theo đó, Thông tư 04/2020/TT0BTP quy định, trường hợp không có chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều 14 thì các bên nhận cha, mẹ, con lập văn bản cam đoan về mối quan hệ cha, mẹ, con, có ít nhất hai người làm chứng về mối quan hệ cha, mẹ, con.
12. Hướng dẫn cách ghi tuổi sang năm sinh khi cấp bản sao trích lục hộ tịch
Cụ thể, tại Thông tư 04/2020/TT-BTP đã hướng dẫn cụ thể cách ghi tuổi sang năm sinh khi cấp bản sao trích lục hộ tịch trong trường hợp Sổ hộ tịch trước đây ghi tuổi như sau:
Điều 23. Cấp bản sao trích lục hộ tịch

2. Trường hợp Sổ hộ tịch trước đây ghi tuổi thì cơ quan đăng ký hộ tịch xác định năm sinh tương ứng ghi vào mục Ghi chú của Sổ hộ tịch, sau đó cấp bản sao trích lục hộ tịch.
Ví dụ: Sổ đăng ký khai sinh năm 1975 ghi tuổi của cha là 25 tuổi, tuổi của mẹ là 23 tuổi thì xác định năm sinh của cha: 1950, năm sinh của mẹ: 1952.
     Thông tư này có hiệu lực từ ngày 16 tháng 7 năm 2020 và thay thế Thông tư số 15/2015/TT-BTP.

                                                   
Nguồn: Nguyễn Thị Ngân - TƯ PHÁP XÃ CẨM VỊNH

 

 File đính kèm

Các văn bản cùng thể loại "Thông tư"

Các văn bản cùng lĩnh vực

Các văn bản cùng người ký "Phạm Mạnh Hùng"

Tìm kiếm văn bản
Thăm dò ý kiến

Lợi ích của phần mềm nguồn mở là gì?

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập15
  • Hôm nay899
  • Tháng hiện tại4,329
  • Tổng lượt truy cập243,014
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây